DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING: What Do Babies Know

 

What Do Babies Know giải chi tiết, dịch hoàn thiện, giải thích rõ ràng

Thumbnail

DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING:

What Do Babies Know?

 

As Daniel Haworth is settled into a high chair and wheeled behind a black screen, a sudden look of worry furrows his 9-month-old brow. His dark blue eyes dart left and right in search of the familiar reassurance of his mother’s face. She calls his name and makes soothing noises, but Daniel senses something unusual is happening. He sucks his fingers for comfort, but, finding no solace, his mouth crumples, his body stiffens, and he lets rip an almighty shriek of distress. This is the usual expression when babies are left alone or abandoned. Mom picks him up, reassures him, and two minutes later, a chortling and alert Daniel returns to the darkened booth behind the screen and submits himself to baby lab, a unit set up in 2005 at the University of Manchester in northwest England to investigate how babies think. ĐOẠN 1

Khi Daniel Haworth được cho ngồi vào một chiếc ghế cao và được xoay ngồi sau màn hình đen, cậu bé 9 tháng tuổi đột nhiên cau mày lại. Đôi mắt xanh đậm của anh đảo sang trái và phải để tìm kiếm sự trấn an quen thuộc trên khuôn mặt mẹ anh. Cô gọi tên anh và tạo ra những tiếng động êm dịu, nhưng Daniel cảm nhận được điều gì đó bất thường đang xảy ra. Anh ta mút ngón tay để tìm sự an ủi, nhưng không tìm thấy niềm an ủi, tháng tháng của anh ta co nhúm, cơ thể anh ta cứng đờ và anh ta phát ra một tiếng thét tột cùng đau khổ. Đây là biểu hiện thường thấy khi trẻ sơ sinh bị bỏ lại một mình hoặc bị bỏ rơi. Mẹ bế anh lên, trấn an anh, và hai phút sau, Daniel cười khúc khích và cảnh giác quay trở lại gian hàng tối tăm phía sau tấm bình phong và nộp mình cho phòng thí nghiệm trẻ em, một đơn vị được thành lập vào năm 2005 tại Đại học Manchester ở tây bắc nước Anh để điều tra xem làm thế nào bé nghĩ.

 

- his (little) face crumpled and then he burst into inconsolable tears.

Crumple - to become incurved or crushed together; to contract and shrivel up; to become creased or wrinkled by being crushed together (OED) - suggests the important (as I see it) involuntary aspect of the facial expressions in the images.

- let rip/fly: to behave in an angry and emotional way:
She let rip about the state of the kitchen.

rip (v): thốt ra

shriek (n): Tiếng la inh tai, tiếng hét inh tai; tiếng kêu thét, tiếng rít

 

Watching infants piece life together, seeing their senses, emotions and motor skills take shape, is a source of mystery and endless fascination—at least to parents and developmental psychologists. We can decode their signals of distress or read a million messages into their first smile. But how much do we really know about what’s going on behind those wide, innocent eyes? How much of their understanding of and response to the world comes preloaded at birth? How much is built from scratch by experience? Such are the questions being explored at the baby lab. Though the facility is just 18 months old and has tested only 100 infants, it’s already challenging current thinking on what babies know and how they come to know it. ĐOẠN 2

Việc quan sát trẻ sơ sinh ghép các mảnh ghép cuộc sống lại với nhau, nhìn thấy các giác quan, cảm xúc và kỹ năng vận động của chúng hình thành là một nguồn cảm hứng bí ẩn và vô tận—ít nhất là đối với các bậc cha mẹ và các nhà tâm lý học phát triển. Chúng ta có thể giải mã những tín hiệu đau khổ của họ hoặc đọc được hàng triệu tin nhắn từ nụ cười đầu tiên của họ. Nhưng chúng ta thực sự biết được bao nhiêu về những gì đang diễn ra đằng sau đôi mắt mở to ngây thơ đó? Bao nhiêu sự hiểu biết và phản ứng của trẻ với thế giới đã được cài đặt sẵn từ khi sinh ra? Bao nhiêu được xây dựng từ đầu bằng kinh nghiệm? Đó là những câu hỏi đang được khám phá tại phòng thí nghiệm trẻ em. Mặc dù cơ sở này chỉ mới hoạt động được 18 tháng và mới chỉ xét nghiệm 100 trẻ sơ sinh, nhưng nó đã thách thức suy nghĩ hiện tại về những gì trẻ biết và làm thế nào chúng biết được điều đó.

Daniel is now engrossed in watching video clips of a red toy train on a circular track. The train disappears into a tunnel and emerges on the other side. A hidden device above the screen is tracking Daniel’s eyes as they follow the train and measuring the diametre of his pupils 50 times a second. As the child gets bored—or “habituated”, as psychologists call the process— his attention level steadily drops. But it picks up a little whenever some novelty is introduced. The train might be green, or it might be blue. And sometimes an impossible thing happens— the train goes into the tunnel one color and comes out another. ĐOẠN 3

Daniel hiện đang mải mê xem những đoạn video clip về chiếc xe lửa đồ chơi màu đỏ chạy trên đường ray hình tròn. Con tàu biến mất trong một đường hầm và đi ra phía bên kia. Một thiết bị ẩn phía trên màn hình đang theo dõi đôi mắt của Daniel khi chúng đi theo đoàn tàu và đo đường kính đồng tử của anh ấy 50 lần một giây. Khi đứa trẻ cảm thấy buồn chán—hay “quen dần”, như các nhà tâm lý học gọi quá trình này—mức độ chú ý của đứa trẻ sẽ giảm dần. Nhưng nó sẽ tăng lên một chút bất cứ khi nào một số điều mới lạ được giới thiệu. Con tàu có thể có màu xanh lá cây hoặc có thể có màu xanh lam. Và đôi khi một điều không thể xảy ra—tàu đi vào đường hầm một màu và ra một màu khác.

 


1. Mua bộ đề gần 400 bài ietls reading - Dịch và giải chi tiết Chỉ 149k (thời hạn 1 năm) bao gồm toàn bộ đề trong bộ Cambridge ( từ bộ 1 -18) và nhiều đề thi thực tế ( xem danh sách 400 đề ielts reading tại đây). Xem bài mẫu tại đây, Bài mẫu 1, bài mẫu 2, bài mẫu 3. Giải đề bao gồm phần dịch bài đọc, dịch phần câu hỏi, giải thích chi tiết.

2. Để mua bộ đề Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

3. Sau khi nhận được thanh toán Chúng tôi sẽ kích hoạt truy cập bộ đề qua email trong vòng 30ph. Vui lòng cung cấp địa chỉ email chính xác.


 

 

Variations of experiments like this one, examining infant attention, have been a standard tool of developmental psychology ever since the Swiss pioneer of the field, Jean Piaget, started experimenting on his children in the 1920s. Piaget’s work led him to conclude that infants younger than 9 months have no innate knowledge of how the world works or any sense of “object permanence” (that people and things still exist even when they’re not seen). Instead, babies must gradually construct this knowledge from experience. Piaget’s “constructivist” theories were massively influential on postwar educators and psychologist, but over the past 20 years or so they have been largely set aside by a new generation of “nativist” psychologists and cognitive scientists whose more sophisticated experiments led them to theorise that infants arrive already equipped with some knowledge of the physical world and even rudimentary programming for math and language. Baby lab director Sylvain Sirois has been putting these smart-baby theories through a rigorous set of tests. His conclusions so far tend to be more Piagetian: “Babies,” he says, “know nothing.” ĐOẠN 4

Các biến thể của thí nghiệm như thế này, kiểm tra sự chú ý của trẻ sơ sinh, đã trở thành một công cụ tiêu chuẩn của tâm lý học phát triển kể từ khi Jean Piaget, người Thụy Sĩ tiên phong trong lĩnh vực này, bắt đầu thử nghiệm trên con cái của mình vào những năm 1920. Công trình của Piaget khiến ông kết luận rằng trẻ sơ sinh dưới 9 tháng tuổi không có kiến thức bẩm sinh về cách thế giới vận hành hoặc bất kỳ cảm giác nào về “sự trường tồn của vật thể” (rằng con người và vạn vật vẫn tồn tại ngay cả khi chúng không được nhìn thấy). Thay vào đó, bé phải dần dần xây dựng kiến thức này từ kinh nghiệm. Các lý thuyết “kiến tạo” của Piaget có ảnh hưởng lớn đến các nhà giáo dục và nhà tâm lý học thời hậu chiến, nhưng trong khoảng 20 năm qua, chúng phần lớn đã bị gạt sang một bên bởi một thế hệ mới các nhà tâm lý học và nhà khoa học nhận thức “bản địa” mà những thí nghiệm phức tạp hơn đã khiến họ đưa ra lý thuyết rằng trẻ sơ sinh đã được trang bị một số kiến thức về thế giới vật chất và thậm chí cả lập trình thô sơ về toán và ngôn ngữ. Giám đốc phòng thí nghiệm trẻ em Sylvain Sirois đã đưa những lý thuyết về em bé thông minh này vào một loạt các bài kiểm tra nghiêm ngặt. Những kết luận của ông cho đến nay có xu hướng mang tính Piaget hơn: “Những đứa trẻ,” ông nói, “không biết gì cả”.

What Sirois and his postgraduate assistant Lain Jackson are challenging is the interpretation of a variety of classic experiments begun in the mid-1980s in which babies were shown physical events that appeared to violate such basic concepts as gravity, solidity and contiguity. In one such experiment, by University of Illinois psychologist Renee Baillargeon, a hinged wooden panel appeared to pass right through a box. Baillargeon and M.I.T’s Elizabeth Spelke found that babies as young as 3 1/2 months would reliably look longer at the impossible event than at the normal one. Their conclusion: babies have enough built-in knowledge to recognise that something is wrong. ĐOẠN 5

Điều mà Sirois và trợ lý sau đại học Lain Jackson của ông đang thách thức là việc giải thích một loạt các thí nghiệm cổ điển bắt đầu vào giữa những năm 1980, trong đó trẻ sơ sinh được xem các sự kiện vật lý dường như vi phạm các khái niệm cơ bản như trọng lực, độ rắn và sự liền kề. Trong một thí nghiệm như vậy, do nhà tâm lý học Renee Baillargeon của Đại học Illinois thực hiện, một tấm gỗ có bản lề dường như đi xuyên qua một chiếc hộp. Baillargeon và Elizabeth Spelke của M.I.T phát hiện ra rằng những đứa trẻ từ 3 tháng rưỡi chắc chắn sẽ nhìn vào sự kiện không thể xảy ra lâu hơn so với sự kiện bình thường. Kết luận của họ: trẻ sơ sinh có đủ kiến thức sẵn có để nhận ra rằng có điều gì đó không ổn.

Sirois does not take issue with the way these experiments were conducted. “The methods are correct and replicable,” he says, “it’s the interpretation that’s the problem.” In a critical review to be published in the forthcoming issue of the European Journal of Developmental Psychology, he and Jackson pour cold water over recent experiments that claim to have observed innate or precocious social cognition skills in infants. His own experiments indicate that a baby’s fascination with physically impossible events merely reflects a response to stimuli that are novel. Data from the eye tracker and the measurement of the pupils (which widen in response to arousal or interest) show that impossible events involving familiar objects are no more interesting than possible events involving novel objects. In other words, when Daniel had seen the red train come out of the tunnel green a few times, he gets as bored as when it stays the same color. The mistake of previous research, says Sirois, has been to leap to the conclusion that infants can understand the concept of impossibility from the mere fact that they are able to perceive some novelty in it. “The real explanation is boring,” he says. ĐOẠN 6

Sirois không có vấn đề gì với cách tiến hành những thí nghiệm này. Ông nói: “Các phương pháp này đều đúng và có thể nhân rộng. Vấn đề là ở cách giải thích.” Trong một bài phê bình phê bình sẽ được đăng trên tạp chí Tâm lý học Phát triển Châu Âu số sắp tới, ông và Jackson đã dội một gáo nước lạnh vào những thí nghiệm gần đây tuyên bố đã quan sát thấy các kỹ năng nhận thức xã hội bẩm sinh hoặc sớm phát triển ở trẻ sơ sinh. Các thí nghiệm của chính ông chỉ ra rằng niềm đam mê của một đứa trẻ với những sự kiện không thể xảy ra về mặt vật lý chỉ phản ánh phản ứng trước những kích thích mới lạ. Dữ liệu từ máy theo dõi mắt và phép đo đồng tử (mở rộng để đáp ứng với sự kích thích hoặc hứng thú) cho thấy những sự kiện không thể xảy ra liên quan đến những đồ vật quen thuộc cũng không thú vị hơn những sự kiện có thể xảy ra liên quan đến những đồ vật mới lạ. Nói cách khác, khi Daniel nhìn thấy con tàu màu đỏ đi ra khỏi đường hầm màu xanh lá cây vài lần, anh ấy cảm thấy nhàm chán khi nó vẫn giữ nguyên một màu. Sirois cho biết, sai lầm của nghiên cứu trước đây là đã đi đến kết luận rằng trẻ sơ sinh có thể hiểu khái niệm về điều không thể chỉ từ thực tế là chúng có thể nhận thấy một số điều mới lạ trong đó. “Lời giải thích thực sự thật nhàm chán,” anh nói.

So how do babies bridge the gap between knowing squat and drawing triangles—a task Daniel’s sister Lois, 2 1/2, is happily tackling as she waits for her brother? “Babies have to learn everything, but as Piaget was saying, they start with a few primitive reflexes that get things going,” said Sirois. For example, hardwired in the brain is an instinct that draws a baby’s eyes to a human face. From brain imaging studies we also know that the brain has some sort of visual buffer that continues to represent objects after they have been removed—a lingering perception rather than conceptual understanding. So when babies encounter novel or unexpected events, Sirois explains, “there’s a mismatch between the buffer and the information they’re getting at that moment. And what you do when you’ve got a mismatch is you try to clear the buffer. And that takes attention.” So learning, says Sirois, is essentially the laborious business of resolving mismatches. “The thing is, you can do a lot of it with this wet sticky thing called a brain. It’s a fantastic, statistical-learning machine”. Daniel, exams ended, picks up a plastic tiger and, chewing thoughtfully upon its heat, smiles as if to agree. ĐOẠN 7

Vậy làm thế nào để các em bé thu hẹp khoảng cách giữa việc biết ngồi xổm và vẽ các hình tam giác—một nhiệm vụ mà Lois, em gái của Daniel, 2 tuổi rưỡi, đang vui vẻ thực hiện trong khi chờ đợi anh trai mình? Sirois nói: “Trẻ sơ sinh phải học mọi thứ, nhưng như Piaget đã nói, chúng bắt đầu bằng một vài phản xạ nguyên thủy để khiến mọi thứ diễn ra suôn sẻ”. Ví dụ, bản năng cố định trong não sẽ thu hút ánh mắt của em bé nhìn vào khuôn mặt người. Từ các nghiên cứu hình ảnh não, chúng ta cũng biết rằng não có một loại vùng đệm thị giác nào đó tiếp tục thể hiện các vật thể sau khi chúng bị loại bỏ - một nhận thức kéo dài hơn là sự hiểu biết về khái niệm. Vì vậy, khi trẻ sơ sinh gặp phải những sự kiện mới lạ hoặc bất ngờ, Sirois giải thích, “có sự không khớp giữa bộ đệm và thông tin chúng nhận được vào thời điểm đó. Và điều bạn làm khi có thông tin không khớp là cố gắng xóa bộ đệm. Và điều đó gây chú ý.” Vì vậy, học tập, Sirois nói, về cơ bản là công việc tốn nhiều công sức để giải quyết những điểm không phù hợp. “Vấn đề là, bạn có thể làm được rất nhiều việc với thứ dính ướt gọi là bộ não này. Đó là một cỗ máy học thống kê tuyệt vời”. Daniel, bài kiểm tra kết thúc, nhặt một con hổ nhựa lên và trầm ngâm nhai sức nóng của nó, mỉm cười như thể đồng ý.

 

Questions 27-32

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 3?
In boxes 27-32 on you answer sheet, write

TRUE                 if the statement is true

FALSE                if the statement is false

NOT GIVEN      if the information is not given in the passage

 

27   Baby’s behavior after being abandoned is not surprising.

28   Parents are over-estimating what babies know.

29   Only 100 experiments have been done but can prove the theories about what we know.

30   Piaget’s theory was rejected by parents in 1920s.

31   Sylvain Sirois’s conclusion on infant’s cognition is similar to Piaget’s.

32   Sylvain Sirois found serious flaws in the experimental designs by Baillargeon and Elizabeth Spelke.

 

Questions 33-37

Complete each sentence with the correct ending, A-E, below.
Write the correct letter, A-E, in boxes 33-37 on your answer sheet.

33   Jean Piaget thinks infants younger than 9 months won’t know something existing

34   Jean Piaget thinks babies only get the knowledge

35   Some cognitive scientists think babies have the mechanism to learn a language

36   Sylvain Sirois thinks that babies can reflect a response to stimuli that are novel

37   Sylvain Sirois thinks babies’ attention level will drop

A          before they are born.
B          before they learn from experience.
C          when they had seen the same thing for a while.
D          when facing the possible and impossible events.
E          when the previous things appear again in the lives.

 

Questions 38-40

Choose the correct letter, ABC or D.
Write the correct letter in boxes 38-40 on your answer sheet.

38   What can we know about Daniel in the third paragraph?

A  Daniel’s attention level rose when he saw a blue train.

B  Kid’s attention fell when he was accustomed to the changes.

C  Child’s brain activity was monitored by a special equipment.

D  Size of the train changed when it came out of the tunnel.

 

39   What can we know from the writer in the fourth paragraph?

A  The theories about what baby knows changed over time.

B  Why the experiments that had been done before were rejected.

C  Infants have the innate knowledge to know the external environment.

D  Piaget’s “constructivist” theories were massively influential on parents.

40   What can we know from the argument of the experiment about the baby in the sixth paragraph?

A  Infants are attracted by various colours of the trains all the time.

B  Sylvain Sirois accuses misleading approaches of current experiments.

C  Sylvain Sirois indicates that only impossible events make children interested.

D  Sylvain Sirois suggests that novel things attract baby’s attention.

 


1. Mua bộ đề gần 400 bài ietls reading - Dịch và giải chi tiết Chỉ 149k (thời hạn 1 năm) bao gồm toàn bộ đề trong bộ Cambridge ( từ bộ 1 -18) và nhiều đề thi thực tế ( xem danh sách 400 đề ielts reading tại đây). Xem bài mẫu tại đây, Bài mẫu 1, bài mẫu 2, bài mẫu 3. Giải đề bao gồm phần dịch bài đọc, dịch phần câu hỏi, giải thích chi tiết.

2. Để mua bộ đề Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

3. Sau khi nhận được thanh toán Chúng tôi sẽ kích hoạt truy cập bộ đề qua email trong vòng 30ph. Vui lòng cung cấp địa chỉ email chính xác.


 

 

27. TRUE

28. NOT GIVEN

29. FALSE

30. NOT GIVEN

31. TRUE

32. FALSE

33. B

34. E

35. A

36. D

37. C

38. B

39. A

40. D

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DMCA.com Protection Status