DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING: THE DRINKING OF WINE

 

 

THE DRINKING OF WINE giải chi tiết, dịch hoàn thiện, giải thích rõ ràng

Thumbnail

DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING:

THE DRINKING OF WINE

 

The birth of the cult of fine wine can be dated precisely. On April 10th 1663, Samuel Pepys, diarist and man-about-London, noted that he had enjoyed “a sort of French wine called Ho Bryan that hath a good and most particular taste that I never met with”. ĐOẠN 1

Sự ra đời của việc sùng bái rượu vang hảo hạng có thể được xác định chính xác. Vào ngày 10 tháng 4 năm 1663, Samuel Pepys, người viết nhật ký và người đàn ông ở London, lưu ý rằng ông đã thưởng thức “một loại rượu vang Pháp tên là Ho Bryan có hương vị thơm ngon và đặc biệt nhất mà tôi chưa từng gặp”.

hath=have ( từ cổ)

man-about-town: A fashionable man known for socializing.
Although he's been called a man-about-town by the press, he secretly prefers quiet evenings at home.

 

The owners of Ho Bryan were the Pontacs. They were the top winemaking family of their day, and founded a fashionable restaurant, called Pontack’s Head, in London, in 1663. John Locke, the philosopher whose theory of the social contract inspired America’s revolutionaries, but who had worldlier interests too, spotted the reasons for the superiority of Ho Bryan on a visit to the vineyard in 1667. He found “a little rise of ground…white sand mixed with a little gravel; scarce fit to bear anything.” He added that “they say the wine in the next vineyard to it, tho’ seeming equal to me, is not so good.” Today that vineyard is still rated just below its neighbour. ĐOẠN 2

Chủ sở hữu của Ho Bryan là những người nhà Pontac. Họ là gia đình sản xuất rượu vang hàng đầu vào thời đó và đã thành lập một nhà hàng thời trang tên là Pontack's Head ở London vào năm 1663. John Locke, nhà triết học có lý thuyết về khế ước xã hội đã truyền cảm hứng cho các nhà cách mạng ở Mỹ, nhưng cũng có những mối quan tâm lớn hơn, đã phát hiện ra lý do cho sự vượt trội của Ho Bryan trong chuyến thăm vườn nho năm 1667. Ông tìm thấy “một chút đất nhô lên…cát trắng trộn lẫn một ít sỏi; ít phù hợp để trồng bất cứ điều gì.” Anh ấy nói thêm rằng “họ nói rằng rượu ở vườn nho bên cạnh, đối với tôi, có vẻ ngang bằng với nó, nhưng không ngon lắm.” Ngày nay vườn nho đó vẫn được đánh giá thấp hơn người hàng xóm của nó.

 

Locke had seized on the essential concept of terroir, the combination of soil, subsoil, drainage and microclimate which provide the conditions for the production of fine wine. Another connoisseur, the 18th-century economist Adam Smith, noted that “the vine is more affected by the difference of soils than any other fruit tree. From some, it derives a flavour which no culture or management can equal.” ĐOẠN 3

Locke đã nắm bắt được khái niệm cơ bản về khủng bố, sự kết hợp của đất, lòng đất, hệ thống thoát nước và vi khí hậu tạo ra các điều kiện để sản xuất rượu vang hảo hạng. Một người sành sỏi khác, nhà kinh tế học thế kỷ 18 Adam Smith, lưu ý rằng “cây nho bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khác biệt của đất hơn bất kỳ loại cây ăn quả nào khác. Từ một số người, nó bắt nguồn một hương vị mà không nền văn hóa hay cách quản lý nào có thể sánh bằng.”

concept of terroir = In general, though, it means “a sense of place.” Essentially, terroir encompasses all of the factors that go into producing wine grapes in a vineyard, from the climate to the soil to the elevation. The idea behind terroir is quite old, dating back to the Ancient Greeks who engaged in extensive winemaking.

 

By the early 18th century claret was getting more popular partly because it was getting better. The craft of claret-making had developed. The wine was designed to be kept for years not months, notably by being carefully stored in oak casks. Better corks allowed wine to be stored longer and more safely. Bottles were produced that could be “binned”—laid down on their sides to mature. ĐOẠN 4

Vào đầu thế kỷ 18, rượu vang đỏ đã trở nên phổ biến hơn một phần vì nó ngày càng tốt hơn. Nghề làm rượu vang đã phát triển. Rượu được thiết kế để bảo quản trong nhiều năm chứ không phải vài tháng, đặc biệt là được bảo quản cẩn thận trong thùng gỗ sồi. Nút chai tốt hơn cho phép rượu được lưu trữ lâu hơn và an toàn hơn. Những chai lọ được sản xuất có thể được “đóng thùng”—đặt nằm nghiêng để trưởng thành.

 

In the latter part of the 18th century drinking claret helped the rich to distinguish themselves from England’s port-sodden squirearchy. Port was not only the more traditional drink but also—because it attracted much lower duties—far cheaper. John Hervey, the first Earl of Bristol, spent four times as much on claret as on port, whereas the lusty trenchermen who gathered in the Barbers Hall in the City of London spent a mere £2 on claret as against £850 on port. ĐOẠN 5

Vào phần sau của thế kỷ 18, việc uống rượu vang đỏ đã giúp những người giàu có khác biệt với chế độ quý tộc ở cảng của nước Anh. Port không chỉ là đồ uống truyền thống hơn mà còn rẻ hơn rất nhiều vì nó có mức thuế thấp hơn nhiều. John Hervey, Bá tước đầu tiên của Bristol, đã chi tiêu cho rượu vang đỏ gấp bốn lần so với ở cảng, trong khi những người thợ đào hầm hào hoa tập trung tại Barbers Hall ở Thành phố Luân Đôn chỉ chi 2 bảng Anh cho rượu vang đỏ so với 850 bảng Anh ở cảng.

Port wine: Rượu vang Bồ Đào Nha hay Bồ Đào mỹ tửu là rượu vang cường hóa của Bồ Đào Nha sản xuất độc nhất tại thung lũng Douro ở các tỉnh miền bắc Bồ Đào Nha. Nó thường là rượu vang ngọt, đỏ, được phục vụ như một loại rượu tráng miệng, mặc dù nó cũng có các loại rượu khô, nửa khô, và trắng.

When Britain made peace with France in 1713, claret became more accessible and the wine trade flourished. Claret was pricey but rich Londoners, who were also by then big spenders on theatres, spas and music produced by fashionable immigrants, such as Handel, consumed conspicuous quantities. Sir Robert Walpole, Britain’s first prime minister, used navy ships to smuggle his favourite wines from France. The most expensive one he bought was old burgundy, but that—as of now—was available only in tiny quantities. So he relied largely on claret, buying four hogsheads of 24 dozen bottles of Margaux and one hogshead of Lafite every three months. In a single year his wine bill amounted to over £1,200 (£100,000 today). British consumers bought the best stuff and paid top prices. By the time of the French revolution, the British were paying five times as much for their claret as the wine’s other main customers, the notoriously parsimonious Dutch, who preferred the cheaper, lower-grade stuff. ĐOẠN 6

Khi Anh làm hòa với Pháp vào năm 1713, rượu vang claret trở nên dễ tiếp cận hơn và việc buôn bán rượu vang phát triển mạnh mẽ. Claret là những người London đắt tiền nhưng giàu có, những người lúc bấy giờ cũng là những người chi nhiều tiền cho rạp hát, spa và âm nhạc do những người nhập cư thời thượng sản xuất, chẳng hạn như Handel, đã tiêu thụ số lượng lớn. Ngài Robert Walpole, thủ tướng đầu tiên của Anh, đã sử dụng tàu hải quân để buôn lậu loại rượu yêu thích của ông từ Pháp. Loại đắt nhất anh mua là loại màu đỏ tía cũ, nhưng loại đó - tính đến thời điểm hiện tại - chỉ được cung cấp với số lượng rất nhỏ. Vì vậy, ông chủ yếu dựa vào rượu vang đỏ, cứ ba tháng lại mua bốn thùng gồm 24 chục chai Margaux và một thùng Lafite. Chỉ trong một năm, hóa đơn rượu vang của anh ấy đã lên tới hơn 1.200 bảng Anh (ngày nay là 100.000 bảng Anh). Người tiêu dùng Anh đã mua những thứ tốt nhất và trả giá cao nhất. Vào thời điểm diễn ra cuộc cách mạng Pháp, người Anh đã trả giá cho rượu vang của họ cao gấp 5 lần so với những khách hàng chính khác của rượu vang, những người Hà Lan nổi tiếng là keo kiệt, những người thích những thứ rẻ hơn, cấp thấp hơn.

 

By the late 19th century claret was beginning to flow down the social hierarchy. A free-trade treaty between Britain and France in 1860 drastically reduced the duty on French wines, thus encouraging the British middle classes to ape their social superiors; and in that year the chancellor of the exchequer, William Gladstone, keen to stiffen the nation’s moral spine, cut the duty on table wines to 40% of that on more intoxicating fortified wines such as port and sherry. ĐOẠN 7

Vào cuối thế kỷ 19, rượu vang đỏ bắt đầu được sử dụng trong hệ thống phân cấp xã hội. Một hiệp ước thương mại tự do giữa Anh và Pháp vào năm 1860 đã giảm đáng kể thuế đối với rượu vang Pháp, do đó khuyến khích tầng lớp trung lưu Anh bắt chước tầng lớp thượng lưu trong xã hội của họ; và trong năm đó, bộ trưởng tài chính, William Gladstone, muốn củng cố nền tảng đạo đức của quốc gia, đã cắt giảm thuế đối với rượu vang để bàn xuống 40% so với thuế đối với các loại rượu mạnh có độ say cao hơn như port và sherry.


1. Mua bộ đề gần 400 bài ietls reading - Dịch và giải chi tiết Chỉ 199k bao gồm toàn bộ đề trong bộ Cambridge ( từ bộ 1 -18) và nhiều đề thi thực tế ( xem danh sách 400 đề ielts reading tại đây). Xem bài mẫu tại đây, Bài mẫu 1, bài mẫu 2, bài mẫu 3. Giải đề bao gồm phần dịch bài đọc, dịch phần câu hỏi, giải thích chi tiết. Để mua bộ đề. Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

2. Mua bộ đề Ielts listening từ Cam 10-18 - Dịch và giải chi tiết Chỉ 99k bao gồm phần dịch transcript, dịch câu hỏi, giải đề. Xem bài mẫu tại đây. Để mua bộ đề. Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

3. Đặc biệt dành tặng 100 bạn hoàn thành buổi học thử miễn phí khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1, các bạn sẽ được tặng bộ đề 400k bài Ielts reading và bộ đề Ielts Listening bộ Cam từ 10-18 gồm bài dịch và giải chi tiết, giải thích từ vựng khó ( thời hạn sử dụng trong vòng 2 tháng). Xem thông tin khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1 và đăng ký học thử tại đây.


 

The following year came the Single Bottle Act, allowing grocers to sell wine by the bottle. A much-despised, enormously popular drink called “grocers’ claret” was born, with the result that, between 1859 and 1878, sales of French wines, largely from Bordeaux, rose sixfold to 36m bottles. The Gilbey family, one of the most remarkable commercial dynasties of Victorian England, franchised 2,000 grocers licensed to sell wine, largely claret. Their business grew so fast that by 1875 they were able to buy Château Loudenne in the Médoc to hold their gigantic stocks of claret. As the middle classes turned to claret, so the upper classes abandoned this increasingly common tipple in favour of hock and champagne. ĐOẠN 8

Năm sau đó có Đạo luật chai đơn, cho phép các cửa hàng tạp hóa bán rượu theo chai. Một loại đồ uống cực kỳ phổ biến nhưng bị coi thường có tên là “rượu vang của cửa hàng tạp hóa” đã ra đời, kết quả là, từ năm 1859 đến năm 1878, doanh số bán rượu vang Pháp, phần lớn từ Bordeaux, đã tăng gấp sáu lần lên 36 triệu chai. Gia đình Gilbey, một trong những triều đại thương mại đáng chú ý nhất của nước Anh thời Victoria, đã nhượng quyền cho 2.000 cửa hàng tạp hóa được cấp phép bán rượu vang, phần lớn là rượu vang đỏ. Công việc kinh doanh của họ phát triển nhanh đến mức vào năm 1875, họ có thể mua Château Loudenne ở Médoc để nắm giữ kho rượu vang đỏ khổng lồ của mình. Khi tầng lớp trung lưu chuyển sang uống rượu vang đỏ, tầng lớp thượng lưu đã từ bỏ loại rượu ngày càng phổ biến này để chuyển sang uống rượu vang và rượu sâm panh.

 

Then the fortunes of the claret business turned. In the late 1870s and 1880s an attack of mildew tainted the wines: the reputation of Lafite, for instance, was ruined when the 1884 vintage turned mouldy after only a couple of years in bottle. At the same time, the phylloxera bug began to devastate Bordeaux’s vineyards. ĐOẠN 9

Sau đó, vận may của việc kinh doanh rượu vang đỏ đã thay đổi. Vào cuối những năm 1870 và 1880, một đợt tấn công của nấm mốc đã làm hỏng rượu vang: chẳng hạn, danh tiếng của Lafite đã bị hủy hoại khi loại rượu cổ điển năm 1884 bị mốc chỉ sau vài năm đóng chai. Cùng lúc đó, sâu phylloxera bắt đầu tàn phá các vườn nho ở Bordeaux.

Claret came back into its own in 1960 when the splendid 1959 vintage coincided with the arrival of big American buyers. Its popularity has risen steadily since. London remains at the centre of the fine-wine business—home of organisations such as the Institute of Masters of Wine, of Decanter and World of Fine Wine magazines, and of most of the world’s biggest wine auctions. Liv-Ex, the world’s first stockmarket for fine wine, is based in London; and its figures show that nine-tenths of the wine trade is still in “classed growth” (leading) clarets. Newcomers from vineyards in a dozen countries trying to launch their finest wines on the world market come to London first for validation. Yet though London may still have much of the knowledge and the market, as consumers the British may be past their best. This year, 57% of the fine wine that Sotheby’s sold globally, by value, was bought by Asians; four-fifths of those buyers were from China and Hong Kong. ĐOẠN 10

Claret trở lại vị thế của mình vào năm 1960 khi loại rượu cổ điển lộng lẫy năm 1959 trùng hợp với sự xuất hiện của những người mua lớn ở Mỹ. Sự phổ biến của nó đã tăng lên đều đặn kể từ đó. Luân Đôn vẫn là trung tâm của ngành kinh doanh rượu vang hảo hạng—nơi có các tổ chức như Viện Bậc thầy về Rượu vang, tạp chí Decanter và World of Fine Wine và hầu hết các cuộc đấu giá rượu vang lớn nhất thế giới. Liv-Ex, thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới về rượu vang hảo hạng, có trụ sở tại London; và số liệu của nó cho thấy chín phần mười giao dịch rượu vang vẫn thuộc loại rượu vang “tăng trưởng được phân loại” (dẫn đầu). Những người mới đến từ các vườn nho ở hàng chục quốc gia đang cố gắng tung ra thị trường thế giới những loại rượu vang ngon nhất của họ đã đến London trước tiên để được xác nhận. Tuy nhiên, mặc dù London có thể vẫn có nhiều kiến thức và thị trường, nhưng với tư cách là người tiêu dùng, người Anh có thể đã vượt qua thời kỳ tốt nhất của họ. Năm nay, 57% số rượu hảo hạng mà Sotheby's bán trên toàn cầu tính theo giá trị, được người châu Á mua; 4/5 số người mua đó đến từ Trung Quốc và Hồng Kông.

 

>>>> Xem thêm:

                                                 ♦ Tổng hợp câu trả lời, câu hỏi, từ vựng của hơn 70 chủ đề Ielts Speaking part 1

                                                 ♦ Tổng hợp gần 400 đề thi Ielts reading ( bao gồm dịch, giải chi tiết, từ vựng)

 

Questions 27-32

Match each name to the sentences below.

A   John Hervey

B   Adam Smith

C   John Locke

D   William Gladstone

E   Robert Walpole

27   was perhaps the first person to notice why Ho Bryan tasted so good

28   imported wine illegally

29   wanted to discourage people from drinking strong wines

30   drank more claret than port

31   was a specialist in wine and economics

32   bought more claret than any other kind of wine

 

 

Questions 33-39

Complete the summary below.

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

 

Sales of claret fell considerably in the late 19th century due in part to two factors. One of these was when 33…………… destroyed the good name of Lafite and the other was when Bordeaux’s vineyards were hit by a 34……………. It took many years for the wine to recover. In 1960, this recovery was helped by the production of an excellent claret in 1959 and the 35…………… of buyers from America. Today, London is the centre of the 36…………… trade. People trying to enter the 37…………… with new wines need to get 38…………… for them in London. The growing markets for the fine wines however now seems to be coming from outside the UK. This year, the majority of Sotheby’s wine sales 39…………… were to Asia.

 

 

Question 40

Choose AB or C.

The main purpose of the article is to

A   Present the main reasons why claret has always been popular.

B   Give a brief history of claret.

C   Describe some of the problems claret has faced.

 

ĐÁP ÁN

27. C

28. E

29. D

30. A

31. B

32. E

33. Mildew

34. bug

35. arrival

36. fine-wine

37. market

38. validation

39. globally

40. B

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DMCA.com Protection Status