DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING: Thomas Harriot The Discovery of Refraction

 

Thomas Harriot The Discovery of Refraction giải chi tiết, dịch hoàn thiện, giải thích rõ ràng

Thumbnail

DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING:

Thomas Harriot The Discovery of Refraction

 

A

When light travels from one medium to another, it generally bends or refracts. The law of refraction gives us a way of predicting the amount of bending. Refraction has many applications in optics and technology. A lens uses refraction to form an image of an object for many different purposes, such as magnification. A prism uses refraction to form a spectrum of colors from an incident beam of light. Refraction also plays an important role in the formation of a mirage and other optical illusions. The law of refraction is also known as Snell’s Law, named after Willobrord Snell, who discovered the law in 1621. Although Snell’s sine law of refraction is now taught routinely in undergraduate courses, the quest for it spanned many centuries and involved many celebrated scientists. Perhaps the most interesting thing is that the first discovery of the sine law, made by the sixteenth-century English scientist Thomas Harriot (1560-1621), has been almost completely overlooked by physicists, despite much-published material describing his contribution.

Khi ánh sáng truyền từ môi trường này sang môi trường khác, nó thường bị bẻ cong hoặc khúc xạ. Định luật khúc xạ cho chúng ta một cách dự đoán mức độ uốn cong. Khúc xạ có nhiều ứng dụng trong quang học và công nghệ. Thấu kính sử dụng sự khúc xạ để tạo thành hình ảnh của một vật thể cho nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như độ phóng đại. Một lăng kính sử dụng sự khúc xạ để tạo thành một quang phổ màu từ một chùm ánh sáng tới. Khúc xạ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành ảo ảnh và các ảo ảnh quang học khác. Định luật khúc xạ còn được gọi là Định luật Snell, được đặt theo tên của Willobrord Snell, người đã khám phá ra định luật này vào năm 1621. Mặc dù định luật khúc xạ sin của Snell hiện được giảng dạy thường xuyên trong các khóa học đại học, nhưng việc nghiên cứu nó đã kéo dài nhiều thế kỷ và có sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng. Có lẽ điều thú vị nhất là khám phá đầu tiên về định luật sin, do nhà khoa học người Anh thế kỷ 16 Thomas Harriot (1560-1621) thực hiện, hầu như đã bị các nhà vật lý lãng quên, mặc dù có nhiều tài liệu đã xuất bản mô tả đóng góp của ông.

 

B

A contemporary of Shakespeare, Elizabeth I, Johannes Kepler and Galilei Galileo, Thomas Harriot (1560-1621) was an English scientist and mathematician. His principal biographer, J. W. Shirley, was quoted saying that in his time he was “England’s most profound mathematician, most imaginative and methodical experimental scientist”. As a mathematician, he contributed to the development of algebra, and introduced the symbols of ”>”, and ”<” for ”more than” and ”less than.” He also studied navigation and astronomy. On September 17, 1607, Harriot observed a comet, later identified as Hailey's. With his painstaking observations, later workers were able to compute the comet’s orbit. Harriot was also the first to use a telescope to observe the heavens in England. He made sketches of the moon in 1609, and then developed lenses of increasing magnification. By April 1611, he had developed a lens with a magnification of 32. Between October 17, 1610 and February 26, 1612, he observed the moons of Jupiter, which had already discovered by Galileo. While observing Jupiter’s moons, he made a discovery of his own: sunspots, which he viewed 199 times between December 8, 1610 and January 18, 1613. These observations allowed him to figure out the sun’s period of rotation.

Cùng thời với Shakespeare, Elizabeth I, Johannes Kepler và Galilei Galileo, Thomas Harriot (1560-1621) là một nhà khoa học và toán học người Anh. Người viết tiểu sử chính của ông, J.W. Shirley, được trích dẫn nói rằng vào thời của ông, ông là "nhà toán học sâu sắc nhất, nhà khoa học thực nghiệm giàu trí tưởng tượng và có phương pháp nhất nước Anh". Là một nhà toán học, ông đã đóng góp vào sự phát triển của đại số và giới thiệu các ký hiệu “>”, và “<” cho “lớn hơn” và “nhỏ hơn”. Ông cũng nghiên cứu hàng hải và thiên văn học. Vào ngày 17 tháng 9 năm 1607, Harriot quan sát thấy một sao chổi, sau này được xác định như của Hailey. Với những quan sát tỉ mỉ của mình, những người làm việc sau này đã có thể tính toán quỹ đạo của sao chổi. Harriot cũng là người đầu tiên sử dụng kính viễn vọng để quan sát bầu trời ở Anh. Ông đã phác thảo mặt trăng vào năm 1609, và sau đó phát triển các thấu kính có độ phóng đại tăng dần. Đến tháng 4 năm 1611, ông đã phát triển một thấu kính có độ phóng đại 32. Từ ngày 17 tháng 10 năm 1610 đến ngày 26 tháng 2 năm 1612, ông đã quan sát các vệ tinh của Sao Mộc mà Galileo đã phát hiện ra. Trong khi quan sát các mặt trăng của Sao Mộc, ông đã có một phát hiện của riêng mình: các vết đen Mặt trời, mà ông đã quan sát 199 lần trong khoảng thời gian từ ngày 8 tháng 12 năm 1610 đến ngày 18 tháng 1 năm 1613. Những quan sát này cho phép ông tìm ra chu kỳ quay của mặt trời.

 

C

He was also an early English explorer of North America. He was a friend of the English courtier and explorer Sir Walter Raleigh and travelled to Virginia as a scientific observer on a colonising expedition in 1585. On June 30, 1585, his ship anchored at Roanoke Island, off Virginia. On shore, Harriot observed the topography, flora and fauna, made many drawings and maps, and met the native people who spoke a language the English called Algonquian. Harriot worked out a phonetic transcription of the native people’s speech sounds and began to learn the language, which enabled him to converse to some extent with other natives the English encountered. Harriot wrote his report for Raleigh and published it as A Briefe and True Report of the New Found Land of Virginia in 1588. Raleigh gave Harriot his own estate in Ireland, and Harriot began a survey of Raleigh’s Irish holdings. He also undertook a study of ballistics and ship design for Raleigh in advance of the Spanish Armada’s arrival.

Ông cũng là một nhà thám hiểm Bắc Mỹ người Anh đầu tiên. Ông là bạn của cận thần và nhà thám hiểm người Anh Sir Walter Raleigh và đã đến Virginia với tư cách là nhà quan sát khoa học trong chuyến thám hiểm thuộc địa vào năm 1585. Vào ngày 30 tháng 6 năm 1585, tàu của ông thả neo tại đảo Roanoke, ngoài khơi Virginia. Trên bờ, Harriot quan sát địa hình, hệ động thực vật, vẽ nhiều bản vẽ và bản đồ, đồng thời gặp gỡ những người bản địa nói một ngôn ngữ mà người Anh gọi là Algonquian. Harriot đã tìm ra cách phiên âm các âm thanh lời nói của người bản địa và bắt đầu học ngôn ngữ này, điều này giúp anh có thể trò chuyện ở một mức độ nào đó với những người bản xứ khác mà người Anh gặp phải. Harriot đã viết báo cáo của mình cho Raleigh và xuất bản nó dưới dạng Báo cáo tóm tắt và xác thực về vùng đất mới được tìm thấy của Virginia vào năm 1588. Raleigh đã trao cho Harriot tài sản riêng của mình ở Ireland, và Harriot bắt đầu khảo sát các tài sản ở Ireland của Raleigh. Ông cũng tiến hành nghiên cứu về đạn đạo và thiết kế tàu cho Raleigh trước khi Hạm đội Tây Ban Nha đến.

 

D

Harriot kept regular correspondence with other scientists and mathematicians, especially in England but also in mainland Europe, notably with Johannes Kepler. About twenty years before Snell’s discovery, Johannes Kepler (1571-1630) had also looked for the law of refraction, but used the early data of Ptolemy. Unfortunately, Ptolemy’s data was in error, so Kepler could obtain only an approximation which he published in 1604. Kepler later tried to obtain additional experimental results on refraction, and corresponded with Thomas Harriot from 1606 to 1609 since Kepler had heard Harriot had carried out some detailed experiments. In 1606, Harriot sent Kepler some tables of refraction data for different materials at a constant incident angle, but didn’t provide enough detail for the data to be very useful. Kepler requested further information, but Harriot was not forthcoming, and it appears that Kepler eventually gave up the correspondence, frustrated with Harriot’s reluctance.

Harriot thường xuyên trao đổi thư từ với các nhà khoa học và toán học khác, đặc biệt là ở Anh cũng như ở lục địa châu Âu, đặc biệt là với Johannes Kepler. Khoảng hai mươi năm trước khám phá của Snell, Johannes Kepler (1571-1630) cũng đã tìm định luật khúc xạ, nhưng đã sử dụng dữ liệu ban đầu của Ptolemy. Thật không may, dữ liệu của Ptolemy bị lỗi, vì vậy Kepler chỉ có thể thu được một giá trị gần đúng mà ông đã công bố vào năm 1604. Kepler sau đó đã cố gắng thu được các kết quả thí nghiệm bổ sung về khúc xạ và trao đổi thư từ với Thomas Harriot từ năm 1606 đến 1609 vì Kepler nghe nói Harriot đã thực hiện một số thí nghiệm chi tiết. Năm 1606, Harriot gửi cho Kepler một số bảng dữ liệu khúc xạ cho các vật liệu khác nhau ở góc tới không đổi, nhưng không cung cấp đủ chi tiết để dữ liệu trở nên rất hữu ích. Kepler yêu cầu thêm thông tin, nhưng Harriot không đến, và có vẻ như Kepler cuối cùng đã từ bỏ việc trao đổi thư từ, thất vọng với sự không hết lòng của Harriot

 


1. Mua bộ đề gần 400 bài ietls reading - Dịch và giải chi tiết Chỉ 199k bao gồm toàn bộ đề trong bộ Cambridge ( từ bộ 1 -18) và nhiều đề thi thực tế ( xem danh sách 400 đề ielts reading tại đây). Xem bài mẫu tại đây, Bài mẫu 1, bài mẫu 2, bài mẫu 3. Giải đề bao gồm phần dịch bài đọc, dịch phần câu hỏi, giải thích chi tiết.  Để mua bộ đề. Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

2. Mua bộ đề Ielts listening từ Cam 10-18 - Dịch và giải chi tiết Chỉ 99k bao gồm phần dịch transcript, dịch câu hỏi, giải đề. Xem bài mẫu tại đây. Để mua bộ đề Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

3. Đặc biệt dành tặng 100 bạn hoàn thành buổi học thử miễn phí khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1, các bạn sẽ được tặng bộ đề 400k bài Ielts reading và bộ đề Ielts Listening bộ Cam từ 10-18 gồm bài dịch và giải chi tiết, giải thích từ vựng khó ( thời hạn sử dụng trong vòng 2 tháng). Xem thông tin khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1 và đăng ký học thử tại đây.


 

E

Apart from the correspondence with Kepler, there is no evidence that Harriot ever published his detailed results on refraction. His personal notes, however, reveal extensive studies significantly predating those of Kepler, Snell and Descartes. Harriot carried out many experiments on refraction in the 1590s, and from his notes, it is clear that he had discovered the sine law at least as early as 1602. Around 1606, he had studied dispersion in prisms (predating Newton by around 60 years), measured the refractive indices of different liquids placed in a hollow glass prism, studied refraction in crystal spheres, and correctly understood refraction in the rainbow before Descartes.

Ngoài thư từ trao đổi với Kepler, không có bằng chứng nào cho thấy Harriot từng công bố các kết quả chi tiết của ông về khúc xạ. Tuy nhiên, những ghi chú cá nhân của ông tiết lộ những nghiên cứu sâu rộng có trước đáng kể những nghiên cứu của Kepler, Snell và Descartes. Harriot đã thực hiện nhiều thí nghiệm về khúc xạ vào những năm 1590, và từ những ghi chép của ông, rõ ràng là ông đã khám phá ra định luật sin ít nhất là sớm nhất vào năm 1602. Khoảng năm 1606, ông đã nghiên cứu về sự tán sắc trong lăng kính (trước Newton khoảng 60 năm) , đo chiết suất của các chất lỏng khác nhau đặt trong một lăng kính thủy tinh rỗng, nghiên cứu khúc xạ trong các quả cầu pha lê và hiểu chính xác khúc xạ trong cầu vồng trước Descartes.

 

F

As his studies of refraction, Harriot’s discoveries in other fields were largely unpublished during his lifetime, and until this century, Harriot was known only for an account of his travels in Virginia published in 1588, and for a treatise on algebra published posthumously in 1631. The reason why Harriot kept his results unpublished is unclear. Harriot wrote to Kepler that poor health prevented him from providing more information, but it is also possible that he was afraid of the seventeenth century’s English religious establishment which was suspicious of the work carried out by mathematicians and scientists.

Khi nghiên cứu về khúc xạ, những khám phá của Harriot trong các lĩnh vực khác hầu như không được công bố trong suốt cuộc đời của ông, và cho đến thế kỷ này, Harriot chỉ được biết đến với một tường thuật về chuyến du hành của ông ở Virginia xuất bản năm 1588, và một chuyên luận về đại số được xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1631. Lý do tại sao Harriot giữ kết quả của mình không được công bố là không rõ ràng. Harriot đã viết thư cho Kepler rằng sức khỏe yếu khiến ông không thể cung cấp thêm thông tin, nhưng cũng có thể ông sợ tổ chức tôn giáo ở Anh thế kỷ 17 vốn nghi ngờ công việc của các nhà toán học và khoa học.

posthumously: Được xuất bản sau khi tác giả chết (tác phẩm)

G

After the discovery of sunspots, Harriot’ s scientific work dwindled. The cause of his diminished productivity might have been a cancer discovered on his nose. Harriot died on July 2, 1621, in London, but his story did not end with his death. Recent research has revealed his wide range of interests and his genuinely original discoveries. What some writers describe as his “thousands upon thousands of sheets of mathematics and of scientific observations” appeared to be lost until 1784, when they were found in Henry Percy’s country estate by one of Percy’s descendants. She gave them to Franz Xaver Zach, her husband’s son’s tutor. Zach eventually put some of the papers in the hands of the Oxford University Press, but much work was required to prepare them for publication, and it has never been done. Scholars have begun to study them, and an appreciation of Harriot’s contribution started to grow in the second half of the twentieth century. Harriot’s study of refraction is but one example where his work overlapped with independent studies carried out by others in Europe, but in any historical treatment of optics his contribution rightfully deserves to be acknowledged.

Sau khi khám phá ra các vết đen trên mặt trời, công việc khoa học của Harriot giảm dần. Nguyên nhân khiến năng suất làm việc của anh ấy giảm sút có thể là do căn bệnh ung thư được phát hiện trên mũi của anh ấy. Harriot qua đời vào ngày 2 tháng 7 năm 1621 tại Luân Đôn, nhưng câu chuyện của ông không kết thúc cùng với cái chết của ông. Nghiên cứu gần đây đã tiết lộ nhiều sở thích và những khám phá thực sự độc đáo của ông ấy. Điều mà một số nhà văn mô tả là "hàng nghìn tờ giấy toán học và khoa học quan sát" của ông dường như đã bị thất lạc cho đến năm 1784, khi chúng được một trong những hậu duệ của Percy tìm thấy trong khu đất nông thôn của Henry Percy. Cô đưa chúng cho Franz Xaver Zach, gia sư của con trai chồng cô. Zach cuối cùng đã giao một số bài báo cho Nhà xuất bản Đại học Oxford, nhưng cần phải làm nhiều việc để chuẩn bị cho việc xuất bản chúng và điều đó chưa bao giờ được thực hiện. Các học giả đã bắt đầu nghiên cứu chúng, và sự đánh giá cao về đóng góp của Harriot bắt đầu tăng lên vào nửa sau của thế kỷ XX. Nghiên cứu về khúc xạ của Harriot chỉ là một ví dụ trong đó công trình của ông trùng lặp với các nghiên cứu độc lập được thực hiện bởi những người khác ở châu Âu, nhưng trong bất kỳ nghiên cứu nào về lịch sử quang học, đóng góp của ông đều xứng đáng được ghi nhận.

treatment (n):  sự luận bàn, sự nghiên cứu; sự giải quyết (một vấn đề)

 

>>>> Xem thêm:

                                                 ♦ Tổng hợp câu trả lời, câu hỏi, từ vựng của hơn 70 chủ đề Ielts Speaking part 1

                                                 ♦ Tổng hợp gần 400 đề thi Ielts reading ( bao gồm dịch, giải chi tiết, từ vựng)

 

Questions 27-31

Reading Passage 3 has 7 paragraphs A-G.

Choose the correct heading for paragraphs B-E and G from the list of headings below.

Write the correct number, i-x, in boxes 27-31 on your answer sheet.

List of Headings

           A misunderstanding in the history of science

ii           Thomas Harriot’s biography

iii          Unknown reasons for his unpublished works

iv          Harriot’s 1588 publication on North America studies

          Expedition to the New World

vi          Reluctant cooperation with Kepler

vii         Belated appreciation of Harriot’s contribution

viii        Religious pressures keeping him from publishing

ix          Correspondence with Kepler

x          Interests and researches into multiple fields of study

Example          Answer

Paragraph A    i

27   Paragraph B

28   Paragraph C

29   Paragraph D

30   Paragraph E

31   Paragraph G

 

Questions 32 – 36

Answer the questions below using NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 32-36 on your answer sheet.

 

Various modem applications base on an image produced by lens uses refraction, such as 32…………………. And a spectrum of colors from a beam of light can be produced with 33…………………. Harriot travelled to Virginia and mainly did research which focused on two subjects of American 34…………………. After, he also enters upon a study of flight dynamics and 35…………………. for one of his friends much ahead of major European competitor. He undertook extensive other studies which were only noted down personally yet predated than many other great scientists. One result, for example, corrected the misconception about the idea of 36………………….

 

 

Questions 37 – 40

Look at the following researchers (listed A-D) and findings.

Match each researcher with the correct finding.

Write your answers in boxes 37-40 on your answer sheet.

NB  You may use any researcher more than once.

 

A     Willobrord Snell

B     Johannes Kepler

C     Ptolemy

D     Galileo

E     Harriot

37   discovered the moons of Jupiter

38   distracted experimental calculation on refraction

39   the discovery of sunspots

40   the person whose name the sin law was attributed to

 

 

 

ĐÁP ÁN

27. x

28. v

29. ix

30. iii

31. vii

32. magnification

33. a prism/ prisms

34. land and language

35. Ship design

36. (the) rainbow refraction/ refraction in rainbow

37. D

38. B

39. E

40. A

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DMCA.com Protection Status