DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING: Cathy Freeman – Australian’s track queen

Cathy Freeman Australian’s track queen giải chi tiết, dịch hoàn thiện, giải thích rõ ràng

Thumbnail

 

DỊCH VÀ GIẢI THÍCH ĐÁP ÁN ĐỀ THI IELTS READING: 

Cathy Freeman – Australian’s track queen

 

A

Runner Cathy Freeman is the first Aborigine, the name given to indigenous Australians, ever to compete in the Olympics, and the first to wave the Aboriginal flag at a sporting event. Freeman lit the Olympic flame at the 2000 Olympics in Sydney, and won a gold medal in the 400 meters at those Games.

Vận động viên điền kinh Cathy Freeman là thổ dân đầu tiên, tên dùng để gọi người Úc bản địa, từ trước đến giờ thi đấu tại Thế vận hội và là người đầu tiên vẫy cờ thổ dân tại một sự kiện thể thao. Freeman đã thắp ngọn lửa Olympic tại Thế vận hội 2000 ở Sydney và giành huy chương vàng ở nội dung 400 mét tại Thế vận hội đó.

 

B

Freeman’s grandmother was part of the “stolen generation” of Aboriginal people in Australia—from the early 20th century until the 1970s; many Aboriginal children were taken from their parents to be raised in state-run institutions. This practice was intended to remove the children from the poverty, disease, and addiction that plagued many Aboriginal people, but it also resulted in tragically broken family ties and loss of ancient cultural traditions. Although Freeman was not taken from her family, she had a difficult childhood. Both her younger sister and her father died when she was young.

Bà của Freeman là một phần của "thế hệ bị đánh cắp" của thổ dân ở Úc—từ đầu thế kỷ 20 cho đến những năm 1970; nhiều trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi cha mẹ của chúng để được nuôi dưỡng trong các cơ sở do nhà nước điều hành. Hoạt động này nhằm mục đích giúp trẻ em thoát khỏi cảnh nghèo đói, bệnh tật và nghiện ngập đã đeo bám nhiều thổ dân, nhưng nó cũng dẫn đến mối quan hệ gia đình tan vỡ một cách bi thảm và đánh mất truyền thống văn hóa cổ xưa. Mặc dù Freeman không bị tách khỏi gia đình nhưng cô đã có một tuổi thơ khó khăn. Cả em gái và cha cô đều chết khi cô còn nhỏ.

 

C

When Freeman was still a girl; her talent in running was obvious. Her mother, Cecilia, encouraged her to pursue her interest in athletics, and when she was ten, her stepfather told her she could win a gold medal at the Olympics if she trained properly. However, although she had the talent, she was also a member of a minority group that historically had not had access to the same resources that other athletes had. Freeman was one of only a few Aborigines who won a scholarship to a boarding school where she could learn and train.

Khi Freeman vẫn còn là một cô gái; tài năng của cô ấy trong việc chạy rất rõ ràng. Mẹ cô, Cecilia, khuyến khích cô theo đuổi sở thích điền kinh, và khi cô lên mười, cha dượng nói với cô rằng cô có thể giành huy chương vàng tại Thế vận hội nếu tập luyện đúng cách. Tuy nhiên, mặc dù cô ấy có tài năng, nhưng cô ấy cũng là thành viên của một nhóm thiểu số mà trước đây không được tiếp cận với các nguồn lực giống như các vận động viên khác. Freeman là một trong số ít thổ dân giành được học bổng vào trường nội trú, nơi cô có thể học tập và rèn luyện.

D

At the age of 15, she competed at the National School Championships, and did well enough to be encouraged to try out for the 1990 Commonwealth Games team. She made the team as a sprinter and was a member of the 4 X 100-meter relay team, which won gold at the Commonwealth Games. In 1990, she competed in the Australian National Championships, winning the 200 meters, and then ran in the 100, 200, and 4 X 100-meter races at the World Junior Games. During this time, she met Nick Bideau, an Australian track official who would later become her coach, manager, and boyfriend.

Ở tuổi 15, cô đã thi đấu tại Giải vô địch trường học quốc gia và đã thi đấu đủ tốt để được khuyến khích thử sức cho đội Đại hội thể thao Khối thịnh vượng chung năm 1990. Cô ấy đã tham gia đội với tư cách là vận động viên chạy nước rút và là thành viên của đội tiếp sức 4 X 100 mét, đội đã giành huy chương vàng tại Đại hội thể thao Khối thịnh vượng chung. Năm 1990, cô tham gia Giải vô địch quốc gia Úc, giành chiến thắng ở cự ly 200 mét, sau đó chạy ở cự ly 100, 200 và 4 X 100 mét tại Đại hội thể thao trẻ thế giới. Trong thời gian này, cô đã gặp Nick Bideau, một quan chức điền kinh người Úc, người sau này trở thành huấn luyện viên, người quản lý và bạn trai của cô.

relay: chạy đua tiếp sức

 


1. Mua bộ đề gần 400 bài ietls reading - Dịch và giải chi tiết Chỉ 199k bao gồm toàn bộ đề trong bộ Cambridge ( từ bộ 1 -18) và nhiều đề thi thực tế ( xem danh sách 400 đề ielts reading tại đây). Xem bài mẫu tại đây, Bài mẫu 1, bài mẫu 2, bài mẫu 3. Giải đề bao gồm phần dịch bài đọc, dịch phần câu hỏi, giải thích chi tiết. Để mua bộ đề. Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

2. Mua bộ đề Ielts listening từ Cam 10-18 - Dịch và giải chi tiết Chỉ 99k bao gồm phần dịch transcript, dịch câu hỏi, giải đề. Xem bài mẫu tại đây. Để mua bộ đề Vui lòng điền thông tin theo form tại đây và thanh toán theo thông tin CK trong form. 

3. Đặc biệt dành tặng 100 bạn hoàn thành buổi học thử miễn phí khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1, các bạn sẽ được tặng bộ đề 400k bài Ielts reading và bộ đề Ielts Listening bộ Cam từ 10-18 gồm bài dịch và giải chi tiết, giải thích từ vựng khó ( thời hạn sử dụng trong vòng 2 tháng). Xem thông tin khóa học Ielts Speaking online 1 kèm 1 và đăng ký học thử tại đây.


 

E

In 1992, she competed in the 400-meter relay at the Barcelona Olympics, making it to the second qualifying round. She was also a member of the 4 X 100 meter team, which ran in the final but did not win a medal. At the World Junior Championships in 1992, she won a silver medal in the 200 meters. In 1993, she made it to the semifinals in the 200 meters at the World Championships.

Năm 1992, cô thi đấu tiếp sức 400 mét tại Thế vận hội Barcelona, ​​lọt vào vòng loại thứ hai. Cô cũng là thành viên của đội 4 X 100 mét chạy vào chung kết nhưng không giành được huy chương. Tại Giải vô địch trẻ thế giới năm 1992, cô đã giành được huy chương bạc ở nội dung 200 mét. Năm 1993, cô vào đến vào bán kết nội dung 200 mét tại Giải vô địch thế giới.

qualifying round: vòng đấu loại 

'Make it (to somewhere)' mang nghĩa là đến một nơi nào đó. Bạn có thể dùng nó khi nói chuyện về việc tham gia các sự kiện hoặc gặp gỡ mọi người

EX:

I can't believe we made it to the airport on time—I thought for sure that we would miss the flight!
We only made it to the concert a few minutes before it was supposed to begin.
I don't think I can make it back to camp—you go on without me!

 

F

In 1994, Freeman won the 200 meters and the 400 meters at the Commonwealth Games in Victoria, British Columbia, Canada. After winning the 400 meters, Freeman ran her victory lap, carrying not the Australian national flag, but the red, black, and yellow Aboriginal flag. She was criticised in the press, and Australian team leader Arthur Tunstall told her she should not display the flag again. Freeman used the publicity she got to publicly discuss what the flag meant to Aboriginal people, explaining its symbolism: red for earth, yellow for sun, and black for skin. Defying Tunstall’s orders, she ran with the flag again after winning the 200 meters.

Năm 1994, Freeman giành chiến thắng ở cự ly 200 mét và 400 mét tại Đại hội Thể thao Khối thịnh vượng chung ở Victoria, British Columbia, Canada. Sau khi giành chiến thắng ở cự ly 400 mét, Freeman đã chạy vòng ăn mừng chiến thắng của mình, không mang theo quốc kỳ Úc mà mang theo lá cờ thổ dân màu đỏ, đen và vàng. Cô ấy đã bị chỉ trích trên báo chí, và trưởng đoàn Úc Arthur Tunstall nói với cô ấy rằng cô ấy không nên treo cờ đó nữa. Freeman đã sử dụng sự nổi tiếng mà cô ấy có được để thảo luận công khai về ý nghĩa của lá cờ đối với thổ dân, giải thích biểu tượng của nó: màu đỏ cho trái đất, màu vàng cho mặt trời và màu đen cho làn da. Bất chấp mệnh lệnh của Tunstall, cô ấy lại chạy với lá cờ sau khi giành chiến thắng ở cự ly 200 mét.

G

At the 1996 Olympic games in Atlanta, Freeman won a silver medal in the 400 meters. After those Games, she broke off her romantic relationship with Bideau, although he continued as her manager. Freeman won the World Championships in the 400 meters in 1997 and 1998, even though she suffered a heel injury in 1998.

Tại Thế vận hội Olympic 1996 ở Atlanta, Freeman đã giành huy chương bạc ở nội dung 400 mét. Sau thế vận hội đó, cô ấy đã cắt đứt mối quan hệ tình cảm của mình với Bideau, mặc dù anh ấy vẫn tiếp tục là quản lý của cô ấy. Freeman đã giành chức vô địch thế giới ở nội dung 400 mét vào năm 1997 và 1998, mặc dù cô bị chấn thương gót chân vào năm 1998.

H

In 1999, Freeman met Alexander Bodecker, an American executive for the Nike shoe company, and the two fell in love. As a result, her relationship with Bideau became strained, and she eventually fired him. Freeman and Bodecker were married on September 19, 1999, in San Francisco. Bideau subsequently claimed that she owed him over $2 million in assets from deals he negotiated while he represented her, leading to a long court battle.

Năm 1999, Freeman gặp Alexander Bodecker, một giám đốc điều hành người Mỹ của hãng giày Nike và hai người yêu nhau. Kết quả là mối quan hệ của cô với Bideau trở nên căng thẳng, và cuối cùng cô đã sa thải anh ta. Freeman và Bodecker kết hôn vào ngày 19 tháng 9 năm 1999 tại San Francisco. Bideau sau đó tuyên bố rằng cô nợ anh ta hơn 2 triệu đô la tài sản từ các giao dịch mà anh ta đã thương lượng trong khi anh ta đại diện cho cô, dẫn đến một cuộc chiến kéo dài tại tòa án.

 

I

Freeman was, of course, Australia’s favourite to win a gold medal in the 400 meters at the 2000 Olympics, held in Sydney. Like any athlete, Freeman wanted to win in order to meet her own goals, but she also knew that she was viewed as a representative of the Aboriginal people, and she wanted to win for them. “I could feel the crowd all over me,” she told Mark Shimabukuro in the Sporting News. “I felt the emotion being absorbed into every part of my body.” When she won, with a time of 49.11 seconds, she was so relieved that she dropped to her knees on the track after completing the race.

Tất nhiên, Freeman là vận động viên được yêu thích của Úc khi giành huy chương vàng ở nội dung 400 mét tại Thế vận hội 2000, được tổ chức tại Sydney. Giống như bất kỳ vận động viên nào, Freeman muốn giành chiến thắng để đạt được mục tiêu của riêng mình, nhưng cô ấy cũng biết rằng cô ấy được coi là đại diện của thổ dân và cô ấy muốn giành chiến thắng cho họ. "Tôi có thể cảm thấy đám đông vây lấy mình," cô nói với Mark Shimabukuro trên tờ Sporting News. "Tôi cảm thấy cảm xúc thấm đẫm vào mọi bộ phận của cơ thể mình." Khi giành chiến thắng với thời gian 49,11 giây, cô ấy cảm thấy nhẹ nhõm đến mức khuỵu gối xuống đường đua sau khi hoàn thành cuộc đua.

 

J

Freeman’s shoes were yellow, black, and red, traditional Aboriginal colours, but after she won, she took them off and ran her victory lap, in traditional Aboriginal style, carrying both the Australian and Aboriginal flags around the track as the crowd cheered. This time, instead of being criticised for carrying the Aboriginal flag around the track; she was widely celebrated by the Australian media and public.

Giày của Freeman có màu vàng, đen và đỏ, các màu truyền thống của Thổ dân, nhưng sau khi giành chiến thắng, cô ấy đã cởi chúng ra và chạy vòng ăn mừng chiến thắng của mình theo phong cách truyền thống của Thổ dân, mang theo cả cờ Úc và cờ Thổ dân quanh đường đua khi đám đông cổ vũ. Lần này, thay vì bị chỉ trích vì mang cờ thổ dân quanh đường đua; cô đã được giới truyền thông và công chúng Úc ca ngợi rộng rãi.

 

>>>> Xem thêm:

                                                 ♦ Tổng hợp câu trả lời, câu hỏi, từ vựng của hơn 70 chủ đề Ielts Speaking part 1

                                                 ♦ Tổng hợp gần 400 đề thi Ielts reading ( bao gồm dịch, giải chi tiết, từ vựng)

 

 

Questions 1-9

The text has ten paragraphs labelled A–J.

Choose the correct heading for sections B–J from the list of headings below.

Write the correct number, i–xii, in boxes 1-9 on your answer sheet.

The first one is done for you as an example below.

Paragraph Headings

i           An Australian sporting icon

ii          A new love

iii         Early competition

iv         Winning isn’t everything

         Family support for running

vi         Her first Olympics

vii        Adored by her nation

viii       Aboriginal identity on the track

ix         Winning the top medal at home

x          Second on the big stage

xi         A difficult childhood

xii        Losing in Sydney

e.g Paragraph 1 ___i___

1   Paragraph 2

2   Paragraph 3

3   Paragraph 4

4   Paragraph 5

5   Paragraph 6

6   Paragraph 7

7   Paragraph 8

8   Paragraph 9

9   Paragraph 10

Questions 10–14

Complete the notes below.

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 10-14 on your answer sheet.

How Cathy Freeman became a sports star

  • Although she had a hard upbringing she got support from her mother and 10………………..
  • She won a 11……………… at a young age to train and study which helped her develop as an athlete.
  • Her first international success was in 1990 at the 12……………….. as part of the Australian sprint team.
  • At her second Olympics in 1996 she won a silver medal for coming second in the 13…………………….

• In 2000, she finally won a 14………………….. at the Sydney Olympics making her one of the most loved sports stars in Australia.

 

 

GIẢI CHI TIẾT và DỊCH HOÀN THIỆN ĐỀ THI IELTS READING: 

Cathy Freeman – Australian’s track queen

 

Questions 1-9

The text has ten paragraphs labelled A–J.

Choose the correct heading for sections B–J from the list of headings below.

Write the correct number, i–xii, in boxes 1-9 on your answer sheet.

The first one is done for you as an example below.

Paragraph Headings

i           An Australian sporting icon
Một biểu tượng thể thao của Úc
ii          A new love
Một tình yêu mới
iii         Early competition
Thi đấu thuở ban đầu
iv         Winning isn’t everything
Chiến thắng không phải là tất cả
v          Family support for running
Sự ủng hộ của gia đình trong việc chạy
vi         Her first Olympics
Thế vận hội đầu tiên của cô ấy
vii        Adored by her nation
Được quốc gia yêu mến
viii       Aboriginal identity on the track
Bản sắc thổ dân trên đường đua
ix         Winning the top medal at home
Giành huy chương cao nhất trên sân nhà
x          Second on the big stage
Giây phút trên sân khấu lớn
xi         A difficult childhood
Một tuổi thơ khó khăn
xii        Losing in Sydney
Thua cuộc ở Sydney

e.g Paragraph 1 ___i___

 

1   Paragraph 2/ xi         A difficult childhood

Giải thích: đoạn B

Although Freeman was not taken from her family, she had a difficult childhood. Both her younger sister and her father died when she was young.

 

2   Paragraph 3/ v          Family support for running

Giải thích: đoạn C

Her mother, Cecilia, encouraged her to pursue her interest in athletics, and when she was ten, her stepfather told her she could win a gold medal at the Olympics if she trained properly.

 

3   Paragraph 4/ iii         Early competition

Giải thích: đoạn D

At the age of 15, she competed at the National School Championships, and did well enough to be encouraged to try out for the 1990 Commonwealth Games team. She made the team as a sprinter, and was a member of the 4 X 100-meter relay team, which won gold at the Commonwealth Games. 

 

4   Paragraph 5/  vi         Her first Olympics

Giải thích: đoạn E

In 1992, she competed in the 400-meter relay at the Barcelona Olympics, making it to the second qualifying round.

 

5   Paragraph 6/ viii       Aboriginal identity on the track

Giải thích: đoạn F

After winning the 400 meters, Freeman ran her victory lap, carrying not the Australian national flag, but the red, black, and yellow Aboriginal flag. She was criticised in the press, and Australian team leader Arthur Tunstall told her she should not display the flag again. Freeman used the publicity she got to publicly discuss what the flag meant to Aboriginal people, explaining its symbolism: red for earth, yellow for sun, and black for skin. Defying Tunstall’s orders, she ran with the flag again after winning the 200 meters.

 

6   Paragraph 7/ x          Second on the big stage

Giải thích: đoạn G

Freeman won the World Championships in the 400 meters in 1997 and 1998, even though she suffered a heel injury in 1998.

 

7   Paragraph 8/ ii          A new love

Giải thích: đoạn H

In 1999, Freeman met Alexander Bodecker, an American executive for the Nike shoe company, and the two fell in love. As a result, her relationship with Bideau became strained, and she eventually fired him. Freeman and Bodecker were married on September 19, 1999, in San Francisco.

 

8   Paragraph 9/ ix         Winning the top medal at home

Giải thích: đoạn I

Freeman was, of course, Australia’s favourite to win a gold medal in the 400 meters at the 2000 Olympics, held in Sydney. 

 

9   Paragraph 10/ vii        Adored by her nation

Giải thích: đoạn J

This time, instead of being criticised for carrying the Aboriginal flag around the track; she was widely celebrated by the Australian media and public.

 

Questions 10–14

 

Complete the notes below.

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 10-14 on your answer sheet.

How Cathy Freeman became a sports star

Although she had a hard upbringing she got support from her mother and 10……stepfather…………..

Mặc dù cô ấy có một gia đình khó khăn nhưng cô ấy vẫn nhận được sự hỗ trợ từ mẹ và cha dượng

Giải thích: đoạn C

Her mother, Cecilia, encouraged her to pursue her interest in athletics, and when she was ten, her stepfather told her she could win a gold medal at the Olympics if she trained properly. 

………………………………………………………………………………………………………………………………

She won a 11……scholarship………… at a young age to train and study which helped her develop as an athlete.

Khi còn trẻ cô đã giành được học bổng để rèn luyện và học tập, điều này đã giúp cô phát triển thành một vận động viên.

Giải thích: đoạn C

Freeman was one of only a few Aborigines who won a scholarship to a boarding school where she could learn and train.

…………………………………………………………………………………………………………………………………

Her first international success was in 1990 at the 12Commonwealth Games…………….. as part of the Australian sprint team.

Thành công quốc tế đầu tiên của cô là vào năm 1990 tại Đại hội thể thao Khối thịnh vượng chung với tư cách là thành viên của đội chạy nước rút Australia.

Giải thích: đoạn D

At the age of 15, she competed at the National School Championships, and did well enough to be encouraged to try out for the 1990 Commonwealth Games team.

…………………………………………………………………………………………………………………………………

At her second Olympics in 1996 she won a silver medal for coming second in the 13………400 meters…………….

Tại Thế vận hội thứ hai vào năm 1996, cô đã giành được huy chương bạc khi về nhì ở nội dung 400 mét.

Giải thích: đoạn F

In 1994, Freeman won the 200 meters and the 400 meters at the Commonwealth Games in Victoria, British Columbia, Canada

…………………………………………………………………………………………………………………………………

In 2000, she finally won a 14……gold medal…………….. at the Sydney Olympics making her one of the most loved sports stars in Australia.

Năm 2000, cuối cùng cô đã giành được huy chương vàng tại Thế vận hội Sydney và trở thành một trong những ngôi sao thể thao được yêu thích nhất ở Úc.

Giải thích: đoạn I

Freeman was, of course, Australia’s favourite to win a gold medal in the 400 meters at the 2000 Olympics, held in Sydney

 

 

 

 

ĐÁP ÁN

 

1. xi

2. v

3. iii

4. vi

5. viii

6. x

7. ii

8. ix

9. vii

10. Stepfather

11. Scholarship

12. Commonwealth games

13. 400 meters/ metres/ m

14. gold medal

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DMCA.com Protection Status