Bài Dịch Ielts Reading: Bright Children

Dịch sang tiếng Việt bài Ielts Reading Bài Bright Children

Thumbnail

Bài Dịch Ielts Reading: Bright Children

 

A. By the time Laszlo Polgar’s first baby was born in 1969 he already had firm views on child-rearing. An eccentric citizen of communist Hungary, he had written a book called “Bring up Genius!” and one of his favourite sayings was “Geniuses are made, not born”. An expert on the theory of chess, he proceeded to teach little Zsuzsa at home, spending up to ten hours a day on the game. Two more daughters were similarly hot-housed. All three obliged their father by becoming world-class players. The youngest, Judit, is currently ranked 13th in the world, and is by far the best female chess player of all time. Would the experiment have succeeded with a different trio of children? If any child can be turned into a star, then a lot of time and money are being wasted worldwide on trying to pick winners.

 

Lúc đứa trẻ đầu tiên của Laszlo Polgar’s ra đời vào năm 1969, ông ta đã có quan điểm vững chắc về việc nuôi dạy con cái. Một công dân hơi lập dị của Hungary, ông ta đã viết một cuốn sách tên “ Nuôi dưỡng những thiên tài” và một trong những câu nói yêu thích của ông ta là “ những thiên tài là do luyện tập chứ không phải bẩm sinh”. Một chuyên gia về lý thuyết chơi cờ, ông đã tiến hành dạy bé Zsuzsa chơi cờ lên đến 10 giờ mỗi ngày. Hai cô con gái khác của ông cũng được nuôi dạy theo cách tương tự. Cả ba cô con gái đều được cha của mình giao nhiệm vụ trở thành những tay chơi cờ hạng thế giới. Đứa nhỏ nhất, Judit, hiện tại đang xếp ở vị trí thứ 13 thế giới, và cho đến nay Judit là kỳ thủ nữ chơi hay nhất của mọi thời đại. Liệu thử nghiệm này có thành công với bộ 3 trẻ em khác hay không? Nếu bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể trở thành ngôi sao thì rất nhiều tiền bạc và thời gian đang bị lãng phí trên toàn thế giới để tìm ra những người thành công.

 

B. America has long held “talent searches”, using test results and teacher recommendations to select children for advanced school courses, summer schools and other extra tuition. This provision is set to grow. In his state-of-the-union address in 2006, President George Bush announced the “American Competitiveness Initiative”, which, among much else, would train 70,000 high-school teachers to lead advanced courses for selected pupils in mathematics and science. Just as the superpowers’ space race made Congress put money into science education, the thought of China and India turning out hundreds of thousands of engineers and scientists is scaring America into prodding its brightest to do their best.

 

Nước Mỹ từ lâu đã tổ chức cuộc “ tìm kiếm tài năng”, việc sử dụng kết quả của các bài kiểm tra và sự gởi ý của giáo viên để chọn ra những đứa trẻ trong các khóa học nâng cao, các lớp chuyên mùa hè và các khóa học thêm khác. Việc này bắt đầu phát triển lên. Trong bài phát biểu liên đoàn vào năm 2006, Tổng thống George Bush đã tuyên bố chương trình “ Sáng kiến năng lực cạnh tranh Mỹ”, giữa muôn vàn những chương trình khác chương trình này đã huấn luyện 70.000 giáo viên trung học nhắm hướng đến những khóa nâng cao cho những học sinh được lựa chọn cho môn toán và khoa học. Cũng giống như cuộc chạy đua không gian của các siêu cường khiến Quốc hội đổ tiền vào giáo dục khoa học, ý nghĩ về việc Trung Quốc và Ấn Độ cho ra đời hàng trăm nghìn kỹ sư và nhà khoa học đang khiến Mỹ phải thúc đẩy những người thông minh nhất làm hết sức mình.

 

C. The philosophy behind this talent search is that ability is innate; that it can be diagnosed with considerable accuracy; and that it is worth cultivating. In America, bright children are ranked as “moderately”, “highly”, “exceptionally” and “profoundly” gifted. The only chance to influence innate ability is thought to be in the womb or the first couple of years of life. Hence the fad for “teaching aids” such as videos and flashcards for newborns, and “whale sounds” on tape which a pregnant mother can strap to her belly.

 

Triết lý đằng sau cuộc tìm kiếm tài năng này là khả năng bẩm sinh; nghĩa là tài năng có thể được dự đoán với độ chính xác đáng kể, và nó đáng để nuôi dưỡng. Ở Mỹ, những đứa trẻ sáng dạ được xếp hạng tài năng như sau" trung bình", " tốt", " đặc biệt", " xuất sắc". Cơ hội duy nhất để tác động đến tài năng bẩm sinh được cho rằng từ lúc trong bụng mẹ hoặc những năm đầu đời. Do vậy phong trào về " các thiết bị hỗ trợ giảng dạy" như video và thẻ ghi nhớ cho trẻ sơ sinh, băng âm thanh cá voi được gắn vào bụng người mẹ đang mang thai.

 

D. In Britain, there is a broadly similar belief in the existence of innate talent, but also an egalitarian sentiment which makes people queasy about the idea of investing resources in grooming intelligence. Teachers are often opposed to separate provision for the best-performing children, saying any extra help should go to stragglers. In 2002, in a bid to help the able while leaving intact the ban on most selection by ability in state schools, the government set up the National Academy for Gifted and Talented Youth. This outfit runs summer schools and master classes for children nominated by their schools. To date, though, only seven in ten secondary schools have nominated even a single child. Last year all schools were told they must supply the names of their top 10%.

 

Ở Anh, có niềm tin rộng rãi tương tự về sự tồn tại của tài năng bẩm sinh, nhưng cũng có tư tưởng bình đẳng khiến mọi người cảm thấy lo lắng về ý tưởng đầu tư nguồn lực vào trí thông minh. Các giáo viên thường phản đối việc cung cấp riêng cho những đứa trẻ có thành tích tốt nhất, họ cho rằng bất kỳ sự trợ giúp thêm nào đều nên dành cho những đứa trẻ lạc lối. Năm 2002, chính phủ đã thành lập Học viện Quốc gia về Năng khiếu và Thanh thiếu niên Tài năng để giúp đỡ những đứa trẻ tài năng trong khi vẫn giữ nguyên lệnh cấm phân loại học sinh theo khả năng ở các trường trong tiểu bang. Tổ chức này áp dụng cho các trường học mùa hè và các lớp học tổng thể cho những đứa trẻ được đề cử bởi trường của chúng. Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ có bảy trong số mười trường trung học đề cử thậm chí chỉ một đứa trẻ. Năm ngoái, tất cả các trường được thông báo rằng họ phải cung cấp tên của những đứa trẻ trong top 10%.

 

E. Picking winners is also the order of the day in ex-communist states, a hangover from the times when talented individuals were plucked from their homes and ruthlessly trained for the glory of the nation. But in many other countries, opposition to the idea of singling out talent and grooming it runs deep. In Scandinavia, a belief in virtues like modesty and social solidarity makes people flinch from the idea of treating brainy children differently.

 

Chọn ra người thành công cũng là chương trình làm việc ở các quốc gia cộng sản cũ, một vết tích ở thời kì mà những cá nhân tài năng bị kéo ra khỏi nhà và được đào tạo một cách tàn nhẫn vì vinh quang của quốc gia. Nhưng ở nhiều quốc gia khác có sự phản đối đối với ý tưởng chọn lọc tài năng và gọt giũa cho nó trở nên sắc nhọn.  Ở Scandinavia, niềm tin vào những đức tính như khiêm tốn và đoàn kết xã hội khiến mọi người chùn bước trước ý tưởng đối xử khác biệt với những đứa trẻ có trí tuệ.

 

F. And in Japan, there is a widespread belief that all children are born with the same innate abilities – and should, therefore, be treated alike. All are taught together, covering the same syllabus at the same rate until they finish compulsory schooling. Those who learn quickest are expected then to teach their classmates. In China, extra teaching is provided, but to a self-selected bunch. “Children’s palaces” in big cities offer a huge range of after-school classes. Anyone can sign up; all that is asked is excellent attendance.

 

Ở Nhật Bản, có một niềm tin rộng rãi rằng tất cả trẻ em được sinh ra có khả năng bẩm sinh như nhau - do đó nên được đối xử như nhau. Tất cả chúng đều được dạy cùng nhau, bao gồm giáo trình như nhau với cùng tốc độ học cho đến khi chúng hoàn thành chương trình học bắt buộc. Đứa trẻ nào học nhanh nhất sẽ dạy cho các bạn cùng lớp. Ở Trung Quốc có cung cấp dịch vụ dạy thêm cho những nhóm có nhu cầu. " Cung điện dành cho trẻ em" trong những thành phố lớn cung cấp rất nhiều lớp học thêm sau giờ học chính thức. Bất kỳ ai cũng có thể đăng ký chỉ cần tham gia học nghiêm túc.

 

G. Statistics give little clue as to which system is best. The performance of the most able is heavily affected by factors other than state provision. Most state education in Britain is nominally non-selective, but middle-class parents try to live near the best schools. Ambitious Japanese parents have made private, out-of-school tuition a thriving business. And Scandinavia’s egalitarianism might work less well in places with more diverse populations and less competent teachers. For what it’s worth, the data suggest that some countries – like Japan and Finland, see table – can eschew selection and still thrive. But that does not mean that any country can ditch selection and do as well.

 

Số liệu thống kê cung cấp rất ít manh mối về hệ thống nào là tốt nhất. Sự thể hiện của những người tài năng nhất bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều yếu tố khác ngoài sự cung cấp của nhà nước. Hầu hết giáo dục công ở Anh về danh nghĩa là không chọn lọc nhưng các bậc cha mẹ trung lưu cố gắng sống gần những ngôi trường tốt nhất. Các cha mẹ Nhật bản đầy tham vọng đã biến học phí tư nhân ngoài nhà trường trở thành ngành kinh doanh phát đạt. Và chủ nghĩa bình quân của Scandinavia có lẽ hoạt động kém hiệu quả hơn ở những nơi có dân số đa dạng và giáo viên kém năng lực hơn. Dù gì đi nữa, dữ liệu cho thấy rằng một vài quốc gia như Nhật Bản và Phần Lan, có thể tránh việc phân loại học sinh và vẫn phát triển tốt. Nhưng nó không có nghĩa rằng bất kỳ quốc gia nào cũng có thể bỏ qua sự lựa chọn như vậy.

 

H. Mr Polgar thought any child could be a prodigy given the right teaching, an early start and enough practice. At one point he planned to prove it by adopting three baby boys from a poor country and trying his methods on them. (His wife vetoed the scheme.) Some say the key to success is simply hard graft. Judit, the youngest of the Polgar sisters, was the most driven, and the most successful; Zsofia, the middle one, was regarded as the most talented, but she was the only one who did not achieve the status of grandmaster. “Everything came easiest to her,” said her older sister. “But she was lazy.”

Ông Polgar cho rằng bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể là một thần đồng nếu được dạy dỗ đúng cách với sự bắt đầu sớm và luyện tập đầy đủ. Tại một thời điểm ông ấy đã lên kế hoạch chứng minh điều đó bằng việc nhận nuôi ba bé trai từ một quốc gia nghèo và thử áp dụng phương pháp của ông ấy với ba đứa trẻ này. ( Vợ của ông ấy đã bác bỏ kế hoạch). Vài người cho rằng chìa khóa đối với thành công chỉ đơn giản là làm việc chăm chỉ. Judit, đứa nhỏ nhất của nhà Polar là đứa dẫn đầu và thành công nhất. Zsofia – đứa giữa, được xem như là tài năng nhất nhưng em ấy là đứa duy nhất không đạt được danh hiệu kiện tướng. Chị gái em nói " Mọi thứ đến với em ấy quá dễ dàng" "dù em ấy đã rất lười biếng"


 

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DMCA.com Protection Status